Khói hương trầm quyện vào hơi sương lành lạnh của buổi sáng tháng Chạp, bảng lảng bay quanh khung ảnh thờ bằng gỗ trắc đen bóng. Trong tấm di ảnh, cụ Đỗ Thị Nhẫn mỉm cười hiền hậu, đôi mắt nheo lại nơi khóe chân chim hằn sâu cả một đời tần tảo. Hôm nay là ngày giỗ lần thứ bảy của mẹ đẻ tôi.
Bên cạnh bếp xôi, nồi canh măng lưỡi lợn hầm mực khô Cát Bà đang sôi lục bục, tỏa ra mùi thơm ngậy mà lúc sinh thời mẹ tôi thích nhất. Tôi tên là Lương Thị Thanh Hiền, năm nay vừa tròn năm mươi sáu tuổi. Nhìn bàn tay trái đang cầm muôi hớt bọt canh, nơi ngón áp út cụt mất nửa đốt vì lưỡi cưa máy năm xưa, lòng tôi chợt dâng lên nỗi xót xa nghẹn đắng. Khi mẹ tôi còn sống, vợ chồng tôi là ông Trịnh Quốc Đạt vẫn còn chật vật trả nợ trong cái lán tôn dột nát ở bãi sông Đuống. Đến mùa đông năm 2018, vì thức trắng ba đêm trông lò sấy gỗ hương giúp ông Đạt kịp hàng Tết, mẹ tôi đã hít phải khí than độc. Bà bị suy hô hấp cấp, nằm viện chưa đầy nửa tháng thì nhắm mắt xuôi tay.
Bây giờ, căn nhà mặt phố Ngô Gia Tự đã xây cao ba tầng khang trang, xưởng gỗ mỹ nghệ ở khu công nghiệp Đồng Kỵ có hàng chục công nhân làm việc. Thế nhưng mẹ tôi chỉ còn là người trong khung ảnh. Tôi cẩn thận múc bát canh măng mực nóng hổi đặt lên chính giữa mâm cỗ cúng, ngay phía trước bát hương đồng. Đúng lúc ấy, chiếc điện thoại trên mặt tủ chè rung lên báo tin nhắn của Trịnh Thu Hà, đứa con gái duy nhất năm nay hai mươi tám tuổi của tôi. Con bé đang làm kỹ sư kiểm định lâm sản ở Đà Nẵng, vừa nhắn báo máy bay đã hạ cánh xuống sân bay Nội Bài và đang bắt taxi về nhà.
Tôi khẽ mỉm cười, rút ba nén nhang trầm châm lửa rồi vái trước bàn thờ mẹ: — Mẹ ơi, hôm nay giỗ năm thứ bảy của mẹ, con nấu đủ những món ngày xưa mẹ thích mà chưa kịp ăn. — Cái Hà đang từ sân bay về rồi, mẹ ở trên trời linh thiêng phù hộ cho con bé bình an, mạnh khỏe.
Cắm xong ba nén nhang vào bát hương, tôi quay đầu nhìn ra chiếc đồng hồ quả lắc treo trên tường. Kim đồng hồ đã chỉ tám giờ ba mươi phút sáng. Vậy mà ông Trịnh Quốc Đạt, người chồng năm mươi tám tuổi đầu gối tay ấp suốt ba mươi năm qua của tôi, vẫn chưa thấy bóng dáng đâu. Tối hôm qua, khi tôi nhắc hôm nay là ngày giỗ mẹ vợ, ông Đạt chỉ ậm ừ qua loa. Ông ta lấy cớ phải ở lại văn phòng xưởng gỗ bên Từ Sơn để tiếp khách buôn từ Lào sang.
Bỗng nhiên, từ ngoài vỉa hè vang lên tiếng phanh xe bán tải rít mạnh đến chói tai. Tiếp theo đó là tiếng cửa sắt xếp bị kéo xoạc ra thô bạo, kèm theo giọng nói chua ngoa quen thuộc của bà Trịnh Thị Tuyết, chị gái ruột chồng tôi: — Đi chậm thôi cô Trang! — Bụng bầu tháng thứ bảy rồi đấy, bước qua bậc tam cấp phải nhìn kỹ dưới chân, đừng để vấp ngã mà động đến cục vàng của họ Trịnh nhà tôi!
Tôi nhíu mày, bước vội ra phía cửa chính. Dưới ánh nắng hanh hao của buổi sáng mùa đông, ông Trịnh Quốc Đạt đang diện bộ vest màu xám tro bảnh bao, cổ thắt cà vạt lụa đỏ tía như đi dự tiệc. Nhưng điều khiến hơi thở tôi khựng lại chính là người phụ nữ đang được ông Đạt và bà Tuyết dìu ở giữa.
Đó là một người phụ nữ trạc ba mươi sáu tuổi, trẻ hơn chồng tôi tới hơn hai chục tuổi đời. Cô ta mặc chiếc váy bầu bằng nhung màu kem sữa, khoác áo lông cừu trắng muốt, gương mặt trang điểm kỹ càng với đôi môi tô son đỏ chót. Một bàn tay cô ta đặt hờ lên phần bụng bầu đã nhô cao vượt mặt, bàn tay kia khoác chặt lấy khuỷu tay ông Đạt như thể họ mới là vợ chồng hợp pháp. Tôi nhận ra gương mặt ấy ngay lập tức.
Trái lại, bà chị chồng sáu mươi mốt tuổi còn hất hàm lên, đôi mắt sắc lẻm liếc xéo qua mâm cỗ cúng đang bốc khói trên bàn thờ gian trong: — Ồ, mợ Hiền dậy sớm bày vẽ cúng bái gớm nhỉ! — Cũng may là mợ đang ở nhà, đỡ mất công cậu Đạt phải gọi điện tìm. — Tránh đường ra cho cậu Đạt dìu cái Trang vào ngồi ghế sofa kẻo nó mỏi lưng, đứng lâu ngoài gió lạnh lại ảnh hưởng đến cháu đích tôn của tôi!
Tôi nhìn thẳng vào mắt ông Đạt, giọng nói trầm xuống nhưng rõ từng chữ: — Ông Đạt, hôm nay là ngày giỗ lần thứ bảy của mẹ tôi. — Ông đi suốt từ tối qua không về thắp cho bà một nén nhang, giờ lại dẫn người đàn bà này bước vào nhà trước bàn thờ mẹ vợ là có ý gì?
Nhưng ngay khi nghe tiếng Kiều Trang khẽ rên nhẹ một tiếng bên cạnh, ông ta lập tức ưỡn ngực lên. Ông Đạt gạt vai tôi sang một bên, dìu Kiều Trang ngồi xuống bộ bàn ghế gỗ hương chạm nghê đắt giá nhất phòng khách rồi mới quay lại nhìn tôi: — Đằng nào thì sớm muộn bà cũng phải biết, nên tôi nói thẳng trong hôm nay cho dứt khoát. — Bà cúng mẹ bà thì cứ cúng, còn việc đại sự của dòng họ Trịnh nhà tôi thì không thể trì hoãn thêm ngày nào nữa.
Nói đoạn, ông Đạt thọc tay vào túi trong áo vest, rút ra một xấp giấy tờ được gấp làm đôi. Không thèm bước tới bàn trà, ông ta vung tay ném thẳng xấp giấy ấy lên góc chiếc bàn gỗ gụ kê ngay sát mâm cơm cúng của mẹ đẻ tôi. Tờ giấy trên cùng bung mở ra, trượt sát vào chân đĩa xôi gấc. Đó là tờ phiếu siêu âm thai nhi bốn chiều của phòng khám tư nhân, phía dưới có dòng kết luận gạch chân đỏ: Thai đơn hai mươi chín tuần tuổi, giới tính Nam. Và nằm ngay bên dưới tờ phiếu siêu âm ấy là một tờ Đơn xin thuận tình ly hôn đã có sẵn chữ ký của ông Trịnh Quốc Đạt ở góc phải.
Bà Tuyết đứng chống nạnh bên cạnh ghế sofa, giọng oang oang như sợ hàng xóm láng giềng không nghe thấy: — Đấy, mợ Hiền cầm lấy mà mở to mắt ra xem cho rõ đi! — Cậu Đạt nhà tôi năm nay năm mươi tám tuổi đầu rồi, làm ông chủ xưởng gỗ lớn nhất nhì vùng này mà lại tuyệt tự, không có nổi đứa con trai nối dõi! — Mợ về làm dâu họ Trịnh ba mươi năm, đẻ được mỗi cái Thu Hà rồi tịt luôn, để người làng chỉ trỏ sau lưng là nhà giàu mà đứt rễ. — Giờ trời thương tổ tiên họ Trịnh, cho cái Trang mang thai thằng cu nối dõi, mợ biết điều thì ký vào đơn kia đi để cậu Đạt đón mẹ con nó về!
Tôi nhìn tờ phiếu siêu âm có in hình hài đứa trẻ nằm cạnh bát canh măng cúng mẹ mình, máu trong người như dồn lên đỉnh đầu. Ba mươi năm trước, khi ông Đạt quỳ trước hiên nhà tranh ở Cổ Am xin cưới tôi, gia đình ông ta nghèo rớt mồng tơi. Trên vai ông ta lúc ấy còn gánh khoản nợ tám cây vàng do bố chồng cờ bạc để lại. Ngày tôi sinh cái Thu Hà vào năm 1998, tôi bị băng huyết nặng trên bàn đẻ ở trạm xá xã. Bác sĩ phải xử lý cấp cứu để giữ mạng sống cho tôi, từ đó sức khỏe suy giảm không sinh thêm được nữa.
Thế nhưng câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó. Mười lăm năm trước, vào mùa xuân năm 2011, ông Đạt từng trải qua một cơn bạo bệnh mà chỉ một mình tôi và vị bác sĩ điều trị biết rõ chân tướng. Tôi từ từ ngước mắt lên, nhìn gương mặt đang vênh váo đầy tự hào của người đàn ông năm mươi tám tuổi trước mặt, rồi chuyển ánh nhìn sang cái bụng bầu của Kiều Trang. Một tia sáng sắc lạnh vụt qua tâm trí tôi.
Lúc này, Đinh Thị Kiều Trang mới khẽ cắn môi, rút chiếc khăn giấy thơm chấm nhẹ lên khóe mắt khô khốc rồi giả bộ vịn tay vào thành ghế đứng dậy. Cô ta bước hai bước về phía bàn thờ, làm bộ cúi đầu khúm núm nói với giọng mũi nghẹn ngào: — Chị Hiền ơi, em biết em xuất hiện vào ngày hôm nay là em có lỗi với chị và với hương hồn bác gái trên bàn thờ. — Nhưng tình cảm giữa em và anh Đạt là thật lòng, đứa bé trong bụng em lại là giọt máu duy nhất nối dõi cho anh ấy lúc tuổi xế chiều. — Em chỉ xin chị thương tình đứa trẻ sắp chào đời đừng để nó mang tiếng con hoang, cho em thắp cho bác gái nén nhang tạ lỗi với chị...
Vừa nói, Kiều Trang vừa vươn bàn tay sơn móng đỏ chót về phía lọ hương trên bàn cúng. Nhưng khi cổ tay đeo chiếc lắc vàng bản to của cô ta lướt qua mép mâm đồng, khuỷu tay cô ta cố tình hất mạnh vào cạnh bát canh măng mực đang bốc khói.
Choang! Chiếc bát sứ Giang Tây vỡ tan tành trên mặt bàn gỗ gụ. Nước canh măng nóng bỏng cùng những sợi mực khô bắn tung tóe lên tấm khăn trải bàn thờ, làm ướt sẫm cả phần chân khung ảnh thờ của mẹ tôi. Một vệt nước canh nóng hổi văng trúng mu bàn tay Kiều Trang khiến cô ta giật bắn mình, hét toáng lên: — Á! Nóng quá! Anh Đạt ơi cứu em, nước canh bắn vào người em rồi!
Ông Đạt lập tức lao tới như một kẻ mất trí, ôm chầm lấy bả vai Kiều Trang kéo lùi lại, rồi quay phắt sang trợn mắt quát thẳng vào mặt tôi: — Lương Thị Thanh Hiền! Bà điên rồi hả? — Cái Trang nó đã hạ mình đến mức xin thắp nhang cho mẹ bà, sao bà còn bày cái bát canh nóng sát mép bàn để làm bỏng nó? — Nếu đứa con trai trong bụng nó mà có mệnh hệ gì, tôi lột xác bà ra đấy!
Tôi không nói một lời, bước lên một bước, đưa tay tóm chặt lấy cổ tay đang làm bộ xuýt xoa của Kiều Trang rồi hất mạnh ra phía sau. Lực hất dứt khoát của người phụ nữ ba mươi năm vác gỗ khiến Kiều Trang loạng choạng ngã ngồi xuống mặt ghế sofa, mặt cắt không còn giọt máu.
Tôi cúi xuống, nhặt tờ phiếu siêu âm bốn chiều và tờ đơn ly hôn đã dính vài giọt mỡ canh lên, phủi nhẹ rồi hỏi bằng giọng bình thản đến rợn người: — Ông nói đứa bé hai mươi chín tuần tuổi trong bụng cô Đinh Thị Kiều Trang đây là con trai ruột của ông? — Và vì đứa bé này, ông đem đơn ly hôn đặt trước bàn thờ người mẹ vợ từng bán đất, tháo đôi hoa tai vàng cuối cùng để cứu ông khỏi đi tù năm xưa?
Ông Đạt hơi khựng lại trước giọng điệu quá đỗi tĩnh lặng của tôi, nhưng bà Tuyết đã nhanh nhảu chêm vào: — Chuyện đời xưa như trái đất rồi, mợ đừng lôi ra kể công nữa! — Bây giờ cậu Đạt cần danh phận cho cái Trang trước khi nó nằm ổ. — Mợ ký đơn ly hôn đi, căn nhà mặt phố Ngô Gia Tự mười bốn tỷ này chia đôi mỗi người một nửa! — Còn cái xưởng gỗ mỹ nghệ ngoài Đồng Kỵ là cơ nghiệp mang họ Trịnh, cậu Đạt phải giữ lại hoàn toàn để sau này truyền cho con trai!
Ông Đạt gật đầu cái rụp, hắng giọng bồi thêm: — Chị Tuyết nói đúng đấy! — Xưởng gỗ Công ty Trịnh Đạt do tôi đứng tên Giám đốc đại diện pháp luật, bà chỉ là người phụ việc trông coi thợ thuyền. — Bà ngoan ngoãn ký đơn, giao lại chìa khóa két xưởng và rút khỏi công ty, tôi còn nể tình ba mươi năm vợ chồng mà chia cho bà nửa căn nhà này để dưỡng già!
Tôi nhìn xoáy vào đôi mắt đang ánh lên vẻ tham lam và tàn nhẫn của ông Đạt, rồi lại nhìn xuống chiếc nhẫn kim cương lấp lánh trên ngón tay Kiều Trang. Tôi khẽ nhếch môi cười, đặt tờ đơn ly hôn và tờ giấy khám thai xuống mặt bàn trà bằng kính: — Được thôi, ông Trịnh Quốc Đạt. — Ông muốn có con trai nối dõi, muốn độc chiếm xưởng gỗ Đồng Kỵ, tôi chiều ý ông. — Nhưng cái xưởng gỗ và căn nhà này chia như thế nào, không phải một mình ông và bà Tuyết đứng đây định đoạt là xong đâu!