Mưa tháng mười một đổ xuống mái ngói âm dương của ngôi nhà từ đường cổ một thứ âm thanh rào rạt, nặng nề và dai dẳng như tiếng thở dài của người già. Trong gian thờ chính rộng mênh mông, mùi gỗ lim lâu năm quyện với mùi khói trầm hương ẩm ướt tạo thành một thứ hương vị đặc quánh của thời gian. Trần Hạ Thục quỳ trên chiếc chiếu cói trải trước án thờ, đôi bàn tay gầy mảnh của một nghệ nhân phục chế tranh cổ cẩn thận lau từng hạt bụi li ti trên khung kính.
Trước mặt cô, treo chính giữa bức hoành phi sơn son thếp vàng đã ngả màu thời gian, là một bức tranh thêu tay vô cùng kỳ lạ. Bức tranh không thêu hoa mẫu đơn, cũng chẳng thêu tùng hạc diên niên như những bức trướng thường thấy trong các gia tộc lâu đời. Trên nền lụa tơ tằm màu ngà sẫm đã ngả sang sắc vàng trầm mặc sau ba mươi năm, chỉ có duy nhất một chữ Hiếu viết theo lối thư pháp thảo thư.
Từng nét chữ không được thêu bằng chỉ tơ nhuộm phẩm màu, mà được khâu tỉ mỉ bằng hàng ngàn sợi tóc bạc trắng của Bà Đượm, bà nội quá cố của Trần Hạ Thục. Dưới ánh nến lập lòe từ đôi chân đèn đồng xanh, những sợi tóc bạc đan chéo vào nhau theo mũi thêu bó hạt, ánh lên thứ sắc trắng xà cừ vừa trang nghiêm vừa lành lạnh. Mỗi lần nhìn vào nét móc cuối cùng của chữ Hiếu, Trần Hạ Thục lại nhớ như in buổi chiều cuối đông trước khi bà Đượm trút hơi thở cuối cùng.
Hôm ấy, hơi thở của bà cụ đã mỏng như sợi tơ nhện trước gió bấc. Nhưng bàn tay nhăn nheo đồi mồi vẫn nắm chặt lấy cổ tay đứa cháu gái mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ. Giọng bà Đượm khàn đặc, chậm rãi vang lên bên tai cô giữa căn buồng nồng mùi thuốc bắc: "Thục ơi, cha mẹ con mất sớm trong vụ sập lò nung sơn mài, một tay bà tần tảo nuôi con ăn học nghề bảo tồn cổ vật đến ngày hôm nay."
"Các cô chú của con ở ngoài phố lớn, lúc bà khỏe mạnh còn miếng đất mặt tiền thì ngọt nhạt hỏi thăm, đến khi bà nằm liệt giường suốt ba năm trời thì chẳng ai đoái hoài." "Ngôi từ đường năm gian này là tâm huyết cả đời của ông nội và bà, tuyệt đối không được phép bán đi để chia chác lấy tiền tiêu xài." Bà Đượm vừa nói vừa chỉ tay lên bức tranh thêu chữ Hiếu treo trang trọng trên vách gỗ lim hậu cung.
"Bức tranh kia, bà đã tự tay nhổ từng sợi tóc bạc của mình suốt ba năm để tang ông nội, rồi cùng ông cụ dùng bí thuật gia truyền niêm phong vào khung gỗ lim." "Chừng nào bức tranh còn treo yên ổn trên vách từ đường, gia đạo họ Trần mới giữ được phúc phần bình an." "Nhưng nếu sau khi bà nhắm mắt, kẻ nào trong đám con cháu động lòng tham mà tự ý tháo bức tranh xuống để đập phá hay bán nhà từ đường..."
Bà cụ dừng lại, đôi mắt đục mờ ánh lên một tia nhìn sắc lẻm khiến người đối diện phải rùng mình: "Thì ngay trong đêm bức tranh rời khỏi vách gỗ, máu tươi sẽ rỉ ra từ chính giữa chữ Hiếu, và kẻ bất hiếu sẽ phải trả giá đắt đến mức tán gia bại sản." Khi ấy, Trần Hạ Thục cứ ngỡ đó chỉ là lời răn đe mang màu sắc tâm linh của một người già muốn giữ gìn hương hỏa tổ tiên trước đàn con rể và con gái thực dụng.
Thế nhưng, với con mắt nghề nghiệp của một chuyên gia phục chế tranh lụa và phân tích hóa chất cổ vật, cô luôn nhận thấy có điều gì đó khác thường ở phần viền khung tranh. Bốn góc khung gỗ lim được ghép mộng âm dương kín khít đến mức không một lưỡi dao lam nào lách vào được. Và toàn bộ khe tiếp giáp đều phủ một lớp sáp ong rừng pha nhựa thông đen nhánh. Hơn nữa, mùi hương thoang thoảng phát ra từ tấm lụa nền mỗi khi trời trở nồm không phải là mùi mốc tự nhiên của tơ tằm. Mà là mùi của muối khoáng vô cơ đã được xử lý rất tinh vi.
Đang mải suy nghĩ, cánh cổng gỗ lim ngoài sân gạch bỗng bị ai đó đạp mạnh, phát ra tiếng kẽo kẹt chói tai giữa màn mưa đêm. Tiếng giày cao gót gõ lộc cộc trên nền gạch bát tràng ướt sũng, hòa lẫn với tiếng cười nói ồn ào hoàn toàn lạc lõng với không khí tĩnh mịch của nhà có tang chưa mãn kỳ. Bốn bóng người che ô đen bước thẳng vào hiên nhà từ đường mà không hề có lấy một chút ý tứ khép nép.
Đi đầu là Bùi Nhã Quỳnh, người cô ruột thứ hai của Trần Hạ Thục, trên người khoác chiếc áo lông đắt tiền và cổ đeo chuỗi ngọc trai sáng bóng. Đi bên cạnh bà ta là người chồng tên Mai Xuân Kiệt, một gã đàn ông ngoài năm mươi tuổi lúc nào cũng vuốt tóc bóng mượt và kẹp chiếc cặp da phồng căng dưới nách. Theo sát phía sau là cô út Đoàn Trúc Cầm — người con gái nuôi được bà Đượm nhận về từ nhỏ — cùng gã chồng thực dụng Phùng Đức Hùng.
Vừa bước qua bậc cửa gỗ, Bùi Nhã Quỳnh đã phẩy chiếc khăn tay lụa trước mũi, nhăn mặt kêu ca: "Trời đất ơi, cái nhà cổ ẩm thấp này lúc nào cũng nồng nặc mùi trầm hương với mùi gỗ mục, ngửi một lúc mà muốn nghẹt cả mũi!" "Thục, sao mày không bật hết đèn chùm sáng trưng lên, cứ thắp mấy ngọn nến leo lét trông cứ như cảnh gọi hồn giữa đêm thế hả?"
Trần Hạ Thục từ tốn đứng dậy, phủi nhẹ vạt áo chàm truyền thống rồi quay lại nhìn bốn người họ hàng vừa xuất hiện. Suốt một trăm ngày kể từ khi bà Đượm qua đời, trừ hôm đám tang ra mặt để thu tiền phúng điếu, đây là lần đầu tiên cả bốn người này cùng đặt chân tới nhà từ đường. Cô giữ giọng điềm tĩnh, không một chút vồn vã cũng chẳng hề tỏ ra yếu thế:
"Cô Quỳnh, chú Kiệt, cô Cầm, chú Hùng, hôm nay không phải ngày rằm cũng chẳng phải ngày giỗ tuần của bà nội." "Trời mưa gió lớn thế này mà hai gia đình lại rủ nhau về từ đường lúc chín giờ tối, chắc hẳn là có chuyện rất gấp liên quan đến mảnh đất hương hỏa này?" Nghe câu hỏi đi thẳng vào vấn đề của đứa cháu gái, Phùng Đức Hùng bật cười khẩy một tiếng rồi bước tới vỗ mạnh vào cây cột gỗ lim to bằng vòng tay người ôm.
"Con bé này học cái nghề lau chùi đồ cổ riết rồi đâm ra nói chuyện cứ như bà cụ non ấy nhỉ!" "Nhưng mà mày đoán chuẩn đấy, bọn tao về đây đêm nay là để thông báo cho mày một tin mừng, giúp mày thoát khỏi cái cảnh sống chui rúc trong ngôi nhà cổ mốc meo này." Mai Xuân Kiệt đặt chiếc cặp da lên chiếc bàn trường kỷ giữa nhà, kéo khóa lấy ra một xấp giấy tờ đóng dấu đỏ chót rồi đẩy về phía Trần Hạ Thục.
"Thục này, cô chú cũng bàn bạc kỹ lưỡng cả rồi, thời buổi tấc đất tấc vàng, khu phố cổ ven sông này đang nằm trong quy hoạch mở rộng khu nghỉ dưỡng sinh thái." "Ngôi từ đường rộng sáu trăm mét vuông này để không cho một mình mày ở, vừa tốn tiền tu sửa mái ngói hàng năm, vừa lãng phí cả một khối tài sản khổng lồ." "Chiều nay, vợ chồng cô Quỳnh và cô Cầm đã đại diện hàng thừa kế thứ nhất của bà Đượm, ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng toàn bộ mảnh đất này cho công ty Nam Việt rồi!"
Trần Hạ Thục nhìn xuống tập hồ sơ đặt trên bàn, ánh nến chiếu rõ dòng chữ hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với con số mười sáu tỷ đồng tròn trĩnh. Trong đó, số tiền đặt cọc đợt một mà bốn người họ vừa nhận về ngay trong chiều nay là tám tỷ đồng tiền mặt chuyển thẳng vào tài khoản của Bùi Nhã Quỳnh. Đoàn Trúc Cầm khoanh tay trước ngực, giọng nói ngọt xớt nhưng từng lời đều toát ra sự tính toán keo kiệt:
"Theo luật thừa kế không di chúc, bà nội mất đi mà không để lại giấy tờ gì ở phòng công chứng. Thì quyền định đoạt thuộc về các con ruột và con nuôi hợp pháp như bọn cô." "Cha mày mất trước bà nội nhiều năm, mày là cháu nội thế vị thì đáng lý cũng có một phần nhỏ, nhưng bọn cô tính cả rồi." "Suốt ba năm qua mày ăn ở miễn phí trong ngôi nhà này, lại còn tận dụng gian chái phía đông làm xưởng phục chế tranh cổ để kiếm tiền riêng. Coi như khấu trừ hết phần của mày!"
"Tuy nhiên, nghĩ tình máu mủ ruột rà, sau khi bàn giao mặt bằng cho công ty Nam Việt vào sáng ngày kia. Hai cô sẽ trích ra cho mày năm mươi triệu đồng để thuê phòng trọ mới." "Nội trong ngày mai, mày phải thu dọn toàn bộ đồ nghề hóa chất, khung tranh lụa cổ của mày biến khỏi đây để bên nhà thầu đưa máy xúc vào san phẳng!" Không gian trong gian từ đường như đặc quánh lại sau lời tuyên bố trắng trợn của Đoàn Trúc Cầm.
Ngoài hiên, một tia chớp trắng lòa xé toạc bầu trời đêm, chiếu rọi thẳng vào bức tranh thêu chữ Hiếu bằng tóc bạc đang treo sừng sững trên vách gỗ. Bùi Nhã Quỳnh vô tình ngước mắt nhìn lên bức tranh, bắt gặp ánh sáng trắng bệch của những sợi tóc người chết thì bất giác rùng mình lùi lại nửa bước. Thấy vợ có vẻ chột dạ vì nhớ tới lời trăn trối của bà cụ trước lúc lâm chung, Mai Xuân Kiệt lập tức đập bàn quát lớn để át đi nỗi sợ vô hình:
"Làm cái gì mà giật mình thon thót thế hả bà Quỳnh, thời đại khoa học kỹ thuật bốn chấm không rồi, làm gì có chuyện tranh thêu bằng tóc biết chảy máu!" "Bà già lúc sống thiên vị con bé Thục, sợ bọn mình bán nhà chia tiền nên mới bịa ra cái lời nguyền nhảm nhí đó để hù dọa con cháu yếu bóng vía thôi!" "Sáng mai tôi gọi thợ tới tháo quách bức tranh đó vứt vào lò hóa vàng, xem máu ở đâu chảy ra được nào!"
Trần Hạ Thục không hề gào khóc, không quỳ xuống van xin giữ lại mái nhà kỷ niệm, cũng chẳng hề buông lời nguyền rủa đanh đá đáp trả lại bốn người họ hàng tham lam. Cô chỉ lặng lẽ cầm bản hợp đồng đặt cọc lên, lật xem từng trang điều khoản mà đại diện pháp lý của công ty Nam Việt là Văn Khánh Giang đã soạn thảo. Trên gương mặt thanh tú của người nghệ nhân phục chế cổ vật, một nụ cười rất nhẹ, điềm nhiên nhưng sâu thẳm thoáng hiện lên dưới ánh nến.
"Cô Quỳnh, chú Kiệt, cô Cầm, chú Hùng đã nhận trước tám tỷ tiền đặt cọc của ông Văn Khánh Giang bên công ty Nam Việt rồi sao?" "Vậy trước khi đặt bút ký nhận tám tỷ này, các cô chú đã đọc kỹ điều khoản thứ bảy về. Cam kết tình trạng pháp lý và nghĩa vụ bồi thường gấp đôi nếu phát sinh di chúc hợp pháp chưa?" Câu hỏi nhẹ tựa lông hồng của Trần Hạ Thục khiến cả bốn cái đầu đang hả hê tính chuyện chia tiền bỗng khựng lại giữa tiếng mưa rơi.