Tiệc mừng thọ tan vào lúc hai giờ chiều, để lại khoảng sân gạch Bát Tràng ngổn ngang vỏ lon bia và những mảnh giấy ăn vương vãi. Khi khách khứa và các cụ trong hội người cao tuổi còn đang ngồi uống trà, bốn đứa con của tôi tranh nhau cầm chổi.
Cầm giẻ lau bàn ghế trông chẳng khác nào những tấm gương hiếu thảo mẫu mực. Thế nhưng vừa khuất bóng vị khách cuối cùng bước ra khỏi cánh cổng sắt sơn xanh, bầu không khí hiếu thuận trong sân lập tức bốc hơi nhanh hơn giọt nước rơi xuống chảo gang đang đỏ lửa.
Con dâu cả Phạm Minh Châu tháo đôi giày cao gót bảy phân ném phịch xuống bậc thềm, lấy tay quạt phành phạch trước cổ rồi quay sang bảo chồng.
"Anh Kiệt ơi, chiều nay bên ngoại nhà em có đám giỗ bà cô họ ở tận Gia Lâm, hai vợ chồng mình phải đi ngay kẻo tắc cầu Chương Dương đấy."
Chưa đầy mười giây sau, Hồ Hoài An cũng vừa bấm điện thoại vừa thở dài thườn thượt.
"Chết thật mẹ ạ, cô giáo chủ nhiệm của thằng Bin vừa nhắn tin báo chiều nay họp phụ huynh đột xuất, vợ chồng con phải về bên khu Linh Đàm đón cháu luôn đây."
Mai Tuyết Mai và Trương Quang Huy thì thậm chí đã dắt sẵn chiếc xe tay ga ra tới tận cổng, chỉ ngoái cổ lại nói vội một câu.
"Tiệm spa của con có khách đặt lịch trị nám lúc hai rưỡi, anh Tùng ở lại giúp mẹ dọn mấy cái mâm bát cho bên dịch vụ nấu cỗ người ta đến thu nhé!"
Thằng út Đặng Đình Tùng đang đứng xỉa răng cạnh bể cá vàng nghe thấy tên mình thì giãy nảy lên như đỉa phải vôi.
"Ơ kìa chị Mai, ba giờ chiều nay em có hẹn dẫn khách đại gia đi xem lô đất phân lô dưới Hoài Đức rồi, chị định làm em mất miếng cơm manh áo đấy à?"
Tôi ngồi trên ghế tràng kỷ, thong thả tháo chiếc trâm cài tóc bằng bạc đặt lên mặt bàn, giọng điềm nhiên như không.
"Thôi, cả bốn anh chị cùng dâu rể cứ đi lo việc đại sự trăm công nghìn việc của mình đi, mấy cái bàn ghế này lát nữa bên nấu cỗ người ta tự có nhân viên vào thu dọn."
"Anh Kiệt với chú Duy trước khi về nhớ cầm luôn hai túi nilon tôm hùm vỏ với nem rán thừa ở dưới bếp mà các mợ đã gói sẵn từ lúc khách còn chưa đứng dậy ấy."
"Để quên ở đây nó thiu ra lại phí của."
Bốn đứa con cùng dâu rể nghe câu nói tỉnh bơ của tôi thì ngượng chín mặt, nhưng chẳng đứa nào chịu bỏ lại túi đồ ăn thừa đã buộc chặt đặt cạnh chân tủ lạnh. Chỉ trong vòng chưa đầy năm phút, tiếng động cơ xe máy và tiếng đóng cửa ô tô đã xa dần đầu ngõ, trả lại cho căn nhà cổ phố Hàng Vải sự tĩnh lặng quen thuộc.
Tôi đứng dậy, bước vào buồng trong đóng kín cửa gỗ lim lại rồi mở ngăn kéo bàn trang điểm lấy ra một mảnh vải nhung màu đen và chiếc kính lúp gọng đồng của ông nhà tôi để lại. Đặt chiếc kiềng vàng năm cây vừa tháo từ trên cổ xuống cạnh chiếc nhẫn trơn đang đeo ở ngón áp út, tôi bật ngọn đèn bàn sáu mươi oát chiếu thẳng vào hai món đồ.
Dưới thấu kính phóng đại gấp năm lần, phần móc khóa cài phía sau chiếc kiềng mà lúc trưa Đặng Tuấn Kiệt cố tình dùng sức bẻ cong đã bị nứt toác lớp vỏ mạ bên ngoài. Qua vết nứt rộng chừng một milimet ấy, một lớp kim loại màu xám xịt hơi ánh xanh của hợp kim đồng thau pha kẽm lộ ra rõ mồn một.
Tôi cầm chiếc nhẫn trơn vừa bị đánh tráo trên tay mình soi tiếp dưới ánh đèn. Bề mặt bên trong lòng nhẫn hoàn toàn trơn nhẵn. Không hề có ký hiệu đóng chìm chữ Phúc nhỏ bằng đầu tăm của tiệm kim hoàn phố Hàng Bạc năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu.
Nơi ông nhà tôi đã đặt đánh đôi nhẫn kỷ niệm ngày cưới. Tôi cất hai món đồ vào chiếc hộp gỗ trắc nhỏ, khoác thêm chiếc áo len mỏng màu xám tro bên ngoài tà áo dài nhung rồi xách túi vải đi bộ ra phía phố Hàng Đậu.
Cách nhà tôi chừng bốn trăm mét là Tiệm vàng Trường Thành, một hiệu kim hoàn gia truyền ba đời nổi tiếng khắp khu phố cổ về nghề chế tác và giám định vàng bạc cổ. Ông chủ tiệm là ông Đạt, năm nay cũng trạc tuổi tôi.
Vốn là chỗ quen biết lâu năm với vợ chồng tôi từ thời ông nhà tôi còn làm thợ cơ khí bậc bảy sửa máy cán vàng cho các tiệm kim hoàn. Khi tôi đẩy cánh cửa kính bước vào Tiệm vàng Trường Thành, ông Đạt đang đeo kính lúp một mắt ngồi cặm cụi chỉnh lại ngạnh ổ chấu cho một chiếc nhẫn kim cương.
Ngẩng lên thấy tôi mặc áo dài nhung huyết dụ bước vào, ông Đạt vội tháo kính lúp xuống, niềm nở pha ngay một ấm trà móc câu Thái Nguyên.
"Bà Sáu đấy à, sáng nay đi ngang qua đầu phố Hàng Vải tôi thấy nhà bà dựng rạp mừng thọ rôm rả lắm cơ mà, sao giờ này lại ra đây một mình thế?"
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu bọc nệm đỏ trước quầy kính, mở chiếc hộp gỗ trắc lấy chiếc kiềng bản to và chiếc nhẫn trơn đặt lên tấm thảm nhung đen của tiệm.
"Hôm nay bốn đứa con tôi nó góp hai trăm triệu mua chiếc kiềng năm cây này mừng thọ mẹ bảy mươi tuổi đấy ông Đạt ạ."
"Chỉ có điều lúc thằng cả đeo vào cổ cho tôi thì cái móc khóa sau gáy nó hơi cứng, tôi mang ra nhờ ông kiểm tra rồi hàn lại giúp tôi cái chốt."
"Sẵn tiện đo phổ quang học luôn cho tôi cả chiếc nhẫn trơn này."
Ông Đạt vừa nghe nói chiếc kiềng năm cây trị giá hai trăm triệu thì gật gù khen con cái tôi có hiếu. Nhưng ngay khi bàn tay nhăn nheo đầy vết chai của người thợ bạc lâu năm chạm vào chiếc kiềng, nụ cười trên môi ông chợt tắt ngấm.
Ông nâng chiếc kiềng lên ước lượng trọng lượng trong lòng bàn tay, rồi đưa lên sát mũi ngửi nhẹ một cái trước khi đặt lên bàn cân điện tử tiểu ly. Mặt đồng hồ điện tử màu xanh của chiếc cân tiểu ly hiện lên con số một trăm tám mươi bảy phẩy bốn gam, tương đương gần năm lượng theo cách tính của nghề kim hoàn.
Thế nhưng ông Đạt không nhìn con số trên cân mà lấy ngay một lưỡi cưa chỉ mảnh như sợi tóc của thợ bạc, khẽ rạch một đường cực nhẹ vào đúng phần mối nối bị gãy ở chốt cài. Thứ mạt kim loại rơi xuống mặt giấy trắng lót dưới khay không phải là những vụn vàng dẻo quánh ánh kim, mà là một lớp bột vụn khô khốc màu vàng xỉn pha lẫn sắc xám xanh.
Ông Đạt nhỏ một giọt dung dịch axit thử vàng tiêu chuẩn lên vệt cưa. Lập tức một làn bọt sủi tăm li ti màu xanh lục nhạt hiện lên kèm theo mùi hăng hắc đặc trưng của đồng bị oxy hóa. Ông Đạt lắc đầu thở dài, tiếp tục gắp chiếc nhẫn trơn hai chỉ bỏ vào buồng máy đo quang phổ huỳnh quang tia X đặt ở góc quầy trong.
Ba mươi giây sau, máy in nhiệt của thiết bị kiểm định rè rè nhả ra một dải băng giấy trắng in đầy các thông số phần trăm kim loại. Ông Đạt cầm tờ phiếu kết quả bước ra, đặt nhẹ xuống trước mặt tôi, giọng trầm xuống đầy ái ngại.
"Bà Sáu này, chỗ tình nghĩa quen biết với ông nhà bà mấy chục năm nay, tôi nói thật bà đừng tăng xông huyết áp nhé."
"Cái kiềng chạm rồng phượng này ruột bên trong là đồng thau đúc đặc pha chì cho đủ cân nặng năm cây, bên ngoài chỉ mạ điện một lớp vàng công nghiệp mỏng dính chưa tới hai mi-crông."
"Hàng này người ta bán sỉ ở mấy sạp phụ kiện cưới hỏi hay đạo cụ chụp ảnh ngoài chợ Đồng Xuân chỉ có giá hai trăm tám đến ba trăm nghìn đồng một chiếc thôi bà ạ."
"Còn cái nhẫn trơn hai chỉ này cũng cùng một lò mạ điện mà ra, hàm lượng đồng chiếm tám mươi tám phần trăm, kẽm mười một phần trăm, hoàn toàn không có lấy một phân vàng thật nào."
Dù đã đoán trước được chín phần mười sự thật từ lúc ở nhà, nhưng khi nhìn tờ phiếu kiểm định ghi rõ dòng chữ vàng không phần trăm bằng mực đen sắc nét. Lòng tôi vẫn dâng lên một nỗi chua chát lạnh lẽo.
Tôi nhớ lại chiếc nhẫn vàng hai chỉ thật của mình. Năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, xí nghiệp dệt cắt giảm biên chế. Đồng lương công nhân cơ khí của ông nhà tôi phải chia năm xẻ bảy để đóng học phí đại học cho thằng Tuấn Kiệt và tiền học cấp ba cho thằng Đức Duy.
Suốt hai mùa đông liền, ông ấy nhận làm thêm ca đêm sửa máy dệt cho các xưởng tư nhân. Hai bàn tay nứt nẻ rướm máu vì dầu máy và nước lạnh chỉ để dành dụm đủ hai chỉ vàng ta đánh chiếc nhẫn cưới bù cho tôi.
Trước lúc nhắm mắt xuôi tay trên giường bệnh viện Phổi trung ương, ông ấy còn nắm chặt bàn tay đeo nhẫn của tôi. Dặn đi dặn lại rằng chiếc nhẫn ấy là bùa bình an ông để lại canh giữ tuổi già cho tôi.
Vậy mà hôm nay, ngay trong ngày lễ mừng thọ bảy mươi tuổi của mẹ. Bốn đứa con do chính tay tôi nuôi nấng dựng vợ gả chồng lại dàn cảnh tặng chiếc kiềng đồng mạ giá ba trăm nghìn để lột mất kỷ vật cuối cùng của người cha đã khuất.
Thậm chí tôi còn chưa biết trong bốn đứa Kiệt, Duy, Mai, Tùng cùng hai cô con dâu và một thằng con rể. Đứa nào là chủ mưu mua chiếc kiềng giả và đứa nào đã trực tiếp ra tay tráo chiếc nhẫn hai chỉ trên ngón tay tôi.
Hay cay đắng hơn, mỗi đứa trong bọn chúng đều đang ôm một bụng tính toán riêng để vừa lừa mẹ già vừa qua mặt chính anh chị em ruột của mình. Ông Đạt thấy tôi ngồi im lặng nhìn tờ phiếu kiểm định, vội vàng rót thêm chén trà nóng đẩy sang trước mặt tôi.
"Bà Sáu, hay là bọn trẻ nó nhờ người quen đi mua hộ rồi bị người ta lừa tráo mất vàng thật mà không biết?"
"Bà có cần tôi sang tận nhà làm chứng để bà hỏi cho ra nhẽ xem đứa nào đi mua chiếc kiềng này không?"
Tôi cầm chén trà ấm áp lên uống cạn một hơi, rồi chậm rãi gấp tờ phiếu kiểm định quang phổ cất vào ngăn kéo khóa kín của chiếc ví da cầm tay.
"Không cần đâu ông Đạt ạ, nếu chỉ có chiếc kiềng năm cây bị giả thì còn có thể đổ tại người bán lừa đảo."
"Đằng này chiếc nhẫn vàng hai chỉ tôi đeo trên ngón tay suốt ba mươi năm qua cũng bị tụi nó dùng một chiếc nhẫn đồng mạ y hệt để tráo mất ngay lúc xúm vào ôm chúc thọ tôi."
"Người ngoài không ai biết kích cỡ ngón tay tôi và càng không ai biết vết mòn của chiếc nhẫn cũ để chuẩn bị sẵn một cái nhẫn giả khớp đến từng ly như thế."
Ông Đạt nghe xong thì sững người, đập mạnh bàn tay xuống mặt kính quầy hàng đầy phẫn nộ.
"Trời đất ơi, căn nhà cổ mặt phố Hàng Vải của ông bà trị giá cả chục tỷ bạc, sau này ông bà khuất núi thì cũng về tay bốn đứa nó cả."
"Sao chúng nó lại nỡ tính toán với mẹ ruột từng chỉ vàng lẻ như thế?"
Tôi mỉm cười, nụ cười tỉnh táo và sắc gọn của một người đã quen đối mặt với những con số gian lận suốt cả cuộc đời.
"Chính vì chúng nó nghĩ căn nhà mười tám tỷ đằng nào cũng phải chia đều cho bốn đứa, nên đứa nào cũng muốn ăn chặn riêng trước một mớ mà không phải bỏ tiền túi ra đấy ông ạ."
"Nhưng ông cứ yên tâm, hôm nay ông giúp tôi một việc nhỏ này, tôi đảm bảo chưa đến trưa mai."
"Chính bốn đứa nó sẽ phải tự tay mang chiếc nhẫn hai chỉ của ông nhà tôi và cả hai trăm triệu tiền mặt về dâng lại tận bàn cho tôi."
Tôi mở ví lấy tờ năm trăm nghìn đặt lên mặt quầy kính của Tiệm vàng Trường Thành, rồi dặn ông Đạt vài câu thật kỹ lưỡng.
"Ông làm ơn hàn lại cái móc khóa chiếc kiềng đồng này cho thật chắc, đánh bóng phủ lại vết cưa sao cho nhìn bằng mắt thường không ai nhận ra nó đã bị đem đi thử lửa."
"Đặc biệt là tối nay hoặc sáng mai, nếu có đứa con hay đứa dâu rể nào của tôi lén chạy ra đây hỏi thăm hoặc mang vàng ra bán, ông cứ làm đúng theo lời tôi dặn nhé."
Ông Đạt nhìn ánh mắt kiên định của tôi, lập tức gật đầu cái rụp, đẩy trả lại tờ năm trăm nghìn vào tay tôi.
"Bà Sáu cứ tin ở tôi, tiền công hàn khóa tôi không lấy một đồng."
"Tôi còn cho thằng cháu nội trích xuất sẵn camera góc nét nhất trong tiệm để lúc nào bà cần là có ngay chứng cứ thép!"