Chiều ba mươi Tết, gió bấc ngoài phố Hàng Tơ rít qua từng khe cửa gỗ lạnh buốt như cắt da. Trong căn bếp rộng cuối tầng một, một mình tôi đã đứng ròng rã suốt tám tiếng đồng hồ. Từ lúc kim đồng hồ chỉ mười giờ sáng cho đến khi bóng chiều sập xuống lúc sáu giờ tối. Đôi bàn chân sáu mươi tư tuổi của tôi bị suy giãn tĩnh mạch, giờ đã sưng phù lên. Từng mạch máu xanh tím nổi cuồn cuộn dưới làn da nhăn nheo, nhức buốt đến tận xương ống quyển.
Tôi tên là Ngô Thị Lành, người đàn bà đã dành hơn bốn mươi năm cuộc đời bên khung cửi. Đôi bàn tay tôi chai sần, các đốt ngón tay hơi cong lại vì những mùa ươm tơ ngâm nước sôi. Hôm nay, đôi bàn tay ấy lại đỏ ửng và nứt nẻ vì ngâm trong nước lạnh suốt cả ngày trời. Trên mặt bàn đá hoa cương trước mặt tôi, mười hai món cỗ tất niên cổ truyền đã được bày biện. Khói trắng bốc lên nghi ngút, quyện lấy mùi thơm nồng đượm của gừng già, hành nướng và lá chanh thái chỉ.
Ở chính giữa là đĩa gà trống thiến luộc vàng ươm, da căng bóng, rắc những sợi lá chanh xanh mướt. Bên cạnh là bát canh bóng thả nấu bằng nước dùng xương thăn ninh suốt năm tiếng, trong vắt ngọt lành. Nồi cá trắm đen kho riềng mẻ và nước hàng dừa đã om đủ mười tiếng trên lửa liu riu. Từng khúc cá săn chắc, thấm đẫm màu cánh gián sẫm bóng, dậy mùi thơm khiến người ta phải nuốt nước bọt. Rồi đĩa nem cua bể gói vuông vức vừa vớt ra khỏi chảo dầu sôi, vỏ giòn rụm vàng ruộm.
Tôi còn tự tay bó cây giò hoa ngũ sắc, xếp từng lát tròn đều tăm tắp như cánh hoa đào. Đĩa tôm sú hấp nước dừa đỏ au, bát chân giò hầm măng lưỡi lợn khô gửi từ vùng cao về. Đĩa xôi gấc đỏ thắm đóng khuôn hoa thị, đĩa chả quế nướng than hoa và nộm ngó sen tôm thịt. Thêm một thố bò hầm tiêu xanh nóng hổi và sáu bát chè hạt sen long nhãn nấu đường phèn thanh mát. Đủ mười hai món cỗ truyền thống mà con dâu tôi, Tạ Hồng Đào, đã nhắn tin yêu cầu từ hôm qua.
Tôi nhớ như in tin nhắn của Tạ Hồng Đào gửi vào máy tôi lúc nửa đêm hai mươi chín Tết. — Mẹ nhớ nấu đủ mười hai món cỗ Hà Nội xưa để chiều mai đón bố mẹ và em trai con. — Bố con là ông Tạ Đức Thịnh vốn sành ăn, mẹ con là bà Chu Lệ Thu lại kỹ tính. — Mẹ tuyệt đối đừng có đặt cỗ sẵn ngoài hàng, bố mẹ con ăn vào biết ngay là mất mặt con. Những dòng tin nhắn cụt lủn, không một chữ thương mẹ tuổi già sức yếu phải đứng bếp một mình.
Thế nhưng tôi không hề than vãn lấy nửa lời, chỉ lặng lẽ nhắn lại một chữ "Ừ" thật ngắn gọn. Không phải vì tôi còn mù quáng hy vọng sự tần tảo của mình sẽ làm cảm động lòng dạ con dâu. Cũng không phải vì tôi chưa nhìn thấu bản chất của đứa con trai duy nhất mà tôi dứt ruột đẻ ra. Mâm cỗ mười hai món chiều ba mươi Tết hôm nay, thực chất là phép thử cuối cùng của đời tôi. Một phép thử mà tôi dành cho Đinh Quốc Bảo, đứa con trai ba mươi lăm tuổi đang ngồi ngoài phòng khách.
Chồng tôi qua đời vì bạo bệnh từ năm Đinh Quốc Bảo mới lên mười tuổi đầu. Một mình tôi góa bụa ở tuổi hai mươi chín, vừa làm mẹ vừa làm cha, gồng gánh xưởng lụa gia truyền. Đó là Xưởng dệt lụa Phú Mỹ, cơ nghiệp trăm năm của tổ tiên để lại bên bờ sông Đáy. Những năm tháng cơ cực nhất, tôi phải thức trắng đêm bên khung cửi gỗ, nghe tiếng thoi đưa lách cách. Mỗi tấm lụa tơ tằm Phú Mỹ dệt ra đều thấm đẫm mồ hôi và cả máu từ đầu ngón tay tôi.
Nhờ tiếng thơm của lụa tơ tằm nguyên bản, tôi vực dậy xưởng Phú Mỹ từ một hộ dệt nhỏ lẻ. Sau ba mươi năm chắt chiu, xưởng đã có hơn bốn mươi khung dệt cùng hàng chục thợ lành nghề. Cũng chính từ tiền lãi của xưởng lụa Phú Mỹ, tôi mới mua được căn nhà phố ba tầng ở phố Hàng Tơ. Căn nhà mặt tiền rộng rãi, trị giá hàng chục tỷ đồng, nơi vợ chồng Đinh Quốc Bảo đang ở cùng tôi. Chiếc xe hơi màu đen bóng lộn đỗ dưới sân kia cũng là tài sản đứng tên xưởng dệt lụa Phú Mỹ.
Thế mà từ ngày Đinh Quốc Bảo cưới Tạ Hồng Đào về làm dâu cách đây ba năm, mọi thứ đều đảo lộn. Tạ Hồng Đào làm trưởng nhóm bán hàng mỹ phẩm cho một công ty tư nhân, miệng lưỡi ngọt xớt nhưng thực dụng. Trước ngày cưới, cô ta nắm tay tôi rơi nước mắt, hứa sẽ hiếu thảo với người mẹ chồng tần tảo. Nhưng vừa bước chân qua cửa nhà họ Đinh, cô ta đã bắt đầu tỏ thái độ ghẻ lạnh với nghề dệt lụa. Cô ta chê bai những bó tơ tằm tôi mang về kiểm định có mùi ngai ngái của kén tằm luộc.
Cô ta xịt nước hoa nồng nặc khắp hành lang mỗi khi tôi từ dưới xưởng Phú Mỹ trở về nhà. Đau lòng hơn cả là thái độ của Đinh Quốc Bảo, đứa con trai mà tôi từng tự hào khoe khắp xóm giềng. Nó được tôi nuôi ăn học đại học, rồi xin vào làm trưởng phòng hành chính ở một doanh nghiệp thương mại. Chính vì sống trong nhung lụa có sẵn từ nhỏ, nó đâm ra sĩ diện hão và nhu nhược trước mặt nhà vợ. Nó luôn mặc cảm vì có một người mẹ đầu vấn khăn nhung, tay chai sần, nói năng mộc mạc chất phác.
Nỗi đau ấy cứ âm ỉ tích tụ, cho đến tối hai mươi tám Tết vừa rồi thì biến thành một gáo nước lạnh. Tối hôm đó, tôi đi lấy thuốc đau khớp ở hiệu thuốc Đông y đầu phố về sớm hơn thường lệ một tiếng. Trời mưa phùn ẩm ướt, tôi đi đôi giày vải mềm nên bước lên cầu thang tầng hai không phát ra tiếng động. Cửa phòng làm việc của Đinh Quốc Bảo khép hờ, ánh đèn vàng hắt ra một vệt dài trên sàn gỗ. Từ bên trong, tiếng của Tạ Hồng Đào vang lên lanh lảnh cùng tiếng loa ngoài điện thoại của bà Chu Lệ Thu.
Tôi dừng bước trước khe cửa, bàn tay đang cầm túi thuốc Đông y bỗng siết chặt lại. Giọng bà thông gia Chu Lệ Thu vọng qua loa điện thoại nghe sắc lẹm và đầy vẻ tính toán: — Đào này, con với thằng Quốc Bảo đã xem kỹ giấy tờ hạn mức tín dụng của xưởng lụa Phú Mỹ chưa? — Em trai con là Tạ Anh Tuấn vừa chốt thuê mặt bằng ở quận trung tâm để mở công ty xuất nhập khẩu. — Giờ nó cần đúng năm tỷ đồng vốn lưu động ngay sau Tết, không có tiền là mất trắng tiền cọc đấy!
Trong phòng, Tạ Hồng Đào vừa giũa móng tay vừa cười khẩy đáp lời mẹ đẻ: — Mẹ cứ yên tâm đi, con đã bảo anh Quốc Bảo chụp toàn bộ hồ sơ pháp lý của xưởng Phú Mỹ rồi. — Xưởng lụa ấy không nợ ngân hàng một đồng nào, dòng tiền mặt và hạn mức tín dụng luôn sẵn năm tỷ. — Bà già nhà quê ấy mù công nghệ, chữ nghĩa pháp lý lại càng chẳng biết cái gì đâu mẹ ạ. — Chiều ba mươi Tết bố mẹ với cậu Tuấn cứ sang đây ăn cỗ tất niên, con bắt bà ấy nấu mười hai món.
Nghe đến đó, lồng ngực tôi như có ai bóp nghẹt, hơi thở trở nên nặng nề và lạnh buốt. Nhưng câu nói tiếp theo của chính đứa con trai tôi, Đinh Quốc Bảo, mới thực sự đâm nát trái tim tôi: — Vâng, mẹ vợ cứ để con lo, sáng mùng một Tết con sẽ bảo mẹ con ký giấy bảo lãnh giải ngân. — Con đã nhờ người soạn sẵn bộ hợp đồng bảo lãnh thế chấp tài sản xưởng Phú Mỹ cho công ty của Tuấn. — Chỉ cần kẹp tờ giấy ấy vào dưới tờ chúc thọ đầu xuân, mẹ con thương con trai nên bảo gì ký nấy.
Tiếng bà Chu Lệ Thu cười lớn trong điện thoại, giọng đầy đắc ý: — Thế mới là con rể quý của nhà họ Tạ chứ, lấy tiền của bà già nhà quê sang cho em vợ làm ăn! — Mà này, cái nhà phố Hàng Tơ ba tầng bên ấy rộng thế, để một mình bà già ở tầng dưới phí phạm. — Ra giêng sau khi giải ngân năm tỷ xong, vợ chồng con tìm cớ đẩy bà ấy về cái lều cũ dưới xưởng. — Rồi đón bố mẹ với thằng Tuấn sang ở hẳn bên phố Hàng Tơ cho tiện đi lại, nghe rõ chưa Quốc Bảo?
Tôi đứng ngoài hành lang tối, chờ đợi một câu phản đối từ đứa con trai mang dòng máu họ Đinh. Dù chỉ là một tiếng ngập ngừng, hay một lời xin cho mẹ mình được giữ lại căn phòng nhỏ cuối đời. Nhưng không, giọng Đinh Quốc Bảo đáp lại vô cùng trơn tru và sốt sắng: — Dạ, con cũng tính thế rồi mẹ ạ, mẹ con người nhà quê ở phố cổ không hợp phong cách sống đâu. — Đợi sáng mùng một Tết lấy xong chữ ký và con dấu xưởng Phú Mỹ, con sẽ thu xếp đưa bà về quê ngay.
Khoảnh khắc ấy, tôi không hề rơi một giọt nước mắt nào, chỉ thấy sống lưng mình lạnh toát như băng. Tôi lặng lẽ lùi từng bước xuống cầu thang, đi ra mở cổng rồi giả vờ bấm chuông như vừa mới về tới. Tối hôm đó, nằm trên chiếc giường gỗ đơn sơ ở tầng một, tôi nhìn bức di ảnh của chồng trên bàn thờ. Ba mươi năm tôi vắt kiệt sức lực nuôi con, hóa ra lại nuôi lớn một con sói mắt trắng biết ăn cháo đá bát. Nó không chỉ muốn rút ruột năm tỷ đồng mồ hôi nước mắt của xưởng lụa Phú Mỹ để dâng cho nhà vợ.
Nó còn tính kế đuổi người mẹ già đã sáu mươi tư tuổi ra khỏi chính ngôi nhà do bà tự tay mua sắm. Người ta thường nói hổ dữ không ăn thịt con, nhưng khi con cái đã coi cha mẹ là cục nợ để vắt kiệt. Thì sự nhẫn nhịn và bao dung mù quáng chỉ là con dao tự cắt vào cổ họng mình. Ngay sáng hôm sau, tức ngày hai mươi chín Tết, tôi không xuống bếp làm mứt như mọi năm. Tôi gọi điện cho Bùi Kiều Trinh, người học trò kiêm quản đốc đã gắn bó với tôi suốt mười lăm năm.
Bùi Kiều Trinh vốn là một cô bé mồ côi ở làng nghề, được tôi cưu mang và truyền dạy bí quyết dệt lụa. Suốt mười lăm năm qua, khi Đinh Quốc Bảo chê nghề dệt lụa bẩn thỉu và không thèm bước chân xuống xưởng. Chính Bùi Kiều Trinh là người thức trắng cùng tôi bên từng mẻ nhuộm tự nhiên, từng đơn hàng xuất khẩu. Con bé lại có người em họ là luật sư chuyên về sở hữu trí tuệ và tài sản doanh nghiệp truyền thống. Đúng chín giờ sáng ngày hai mươi chín Tết, tôi mang theo toàn bộ sổ đỏ gốc và con dấu pháp nhân của xưởng.
Tại văn phòng công chứng và trụ sở Hiệp hội Làng nghề, tôi đã đưa ra quyết định dứt khoát nhất đời mình. Trước đó nửa năm, Hiệp hội Làng nghề đã nhiều lần đề nghị mua lại cổ phần chi phối của xưởng lụa Phú Mỹ. Đồng thời họ muốn nhận chuyển nhượng căn nhà phố Hàng Tơ để làm Trung tâm Trưng bày Lụa Truyền thống. Đổi lại, Hiệp hội sẽ thanh toán một khoản tiền ủy thác bảo tồn lớn vào tài khoản riêng của cá nhân tôi. Và cấp quyền sở hữu trọn đời một căn biệt viện yên tĩnh ngay cạnh khu vườn dâu cổ thụ cho nghệ nhân.
Trước đây tôi còn chần chừ chưa ký vì nghĩ đến Đinh Quốc Bảo, muốn để lại gia sản cho con trai. Nhưng sau đêm hai mươi tám Tết, sợi dây ràng buộc mù quáng ấy đã đứt lìa trong lòng tôi. Đến đúng bốn giờ chiều ngày hai mươi chín Tết, toàn bộ thủ tục chuyển nhượng đã hoàn tất hợp pháp. Xưởng dệt lụa Phú Mỹ và căn nhà phố Hàng Tơ chính thức chuyển quyền sở hữu sang Hiệp hội Làng nghề. Bùi Kiều Trinh được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành trực tiếp, còn tôi giữ vai trò Cố vấn Nghệ nhân.
Trên đường từ văn phòng công chứng trở về vào chiều muộn hai mươi chín Tết, tôi ghé qua một cửa hàng thiết bị. Tôi mua một chiếc đồng hồ treo tường mặt gỗ mun có tích hợp camera chống trộm độ phân giải cao. Chiếc đồng hồ ấy có khả năng ghi hình góc rộng và thu âm chuẩn xác trong bán kính mười mét. Tối hai mươi chín Tết, khi vợ chồng Đinh Quốc Bảo và Tạ Hồng Đào kéo nhau đi dạo chợ hoa. Tôi đã tự tay bắc ghế, tháo chiếc đồng hồ nhựa cũ kỹ trên bức tường ngăn giữa bếp và phòng ăn xuống.
Tôi treo chiếc đồng hồ gỗ mun mới lên đúng vị trí ấy, góc ống kính hướng thẳng xuống bàn ăn và bồn rửa bát. Mọi sự chuẩn bị về pháp lý, tài khoản ngân hàng và thiết bị ghi hình đều đã nằm gọn trong lòng bàn tay tôi. Thế nhưng trong thâm tâm một người mẹ, tôi vẫn dành cho Đinh Quốc Bảo một cơ hội cuối cùng vào chiều ba mươi. Tôi muốn xem khi nhìn thấy người mẹ già đứng bếp suốt tám tiếng đồng hồ nấu mười hai món cỗ tất niên. Liệu lương tâm của nó có còn sót lại chút hơi ấm nào để đối xử tử tế với mẹ mình hay không.
— Mẹ ơi, đã sáu giờ rưỡi rồi đấy, bố mẹ và cậu Tuấn sắp bấm chuông đến nơi rồi! Tiếng giày cao gót gõ lộc cộc trên sàn gạch cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Tạ Hồng Đào bước vào bếp, trên người diện bộ váy nhung đỏ rực bó sát, cổ đeo dây chuyền vàng lấp lánh. Cô ta vừa uốn tóc xoăn bồng bềnh ở tiệm về, mùi nước hoa nồng gắt át cả mùi thơm của nồi canh bóng. Đưa mắt liếc qua mười hai món cỗ nóng hổi trên bàn đá, Tạ Hồng Đào không hề nói một câu cảm ơn.
Cô ta chỉ nhíu mày, dùng đầu ngón tay sơn đỏ chót chỉ vào đĩa gà trống thiến hấp lá chanh: — Sao mẹ thái lá chanh hơi dày thế kia, bố con nhìn thấy lại chê nhà mình làm cỗ thiếu tinh tế. — Thôi được rồi, mẹ mau bưng hết mười hai món này bày lên bàn gỗ gụ ngoài phòng ăn cho con. — Nhớ lau sạch tay đi trước khi chạm vào mép bàn, kẻo mỡ màng dính vào khăn trải bàn thêu của con đấy! Nói rồi, Tạ Hồng Đào mở tủ kính, bê ra một chiếc hộp gấm màu xanh lục bảo vô cùng sang trọng.
Đó là bộ bát đũa sứ xương viền vàng và những đôi đũa mạ vàng sáng loáng mà cô ta vừa đặt mua. Tôi lặng lẽ dùng khăn khô lau đôi bàn tay nứt nẻ, rồi lần lượt bưng từng món cỗ nóng hổi ra bàn ăn. Mười hai đĩa cỗ đầy đặn được xếp kín mặt bàn gỗ gụ tròn dưới ánh đèn chùm pha lê rực rỡ. Đúng lúc ấy, tiếng chuông cửa vang lên dồn dập kèm theo tiếng cười nói ồn ào ngoài hiên. Gia đình thông gia họ Tạ đã chính thức bước chân vào cửa trong buổi chiều cuối cùng của năm cũ.