Khi lớp lụa tơ tằm bị dòng chất lỏng đỏ thẫm ăn mòn rơi lả tả xuống chân bàn thờ. Cả bốn người đang hoảng loạn bỗng nhìn thấy những dòng chữ viết tay sắc nét cùng con dấu đỏ chót của. Phòng công chứng nhà nước số một hiện ra rành rành trên tấm giấy dó ép chống nước bên trong lõi khung tranh. Mai Xuân Kiệt run rẩy bò lại gần, dí sát chiếc đèn pin vào tấm văn tự vừa lộ diện dưới lớp máu giả. Ngay dòng tiêu đề đầu tiên được viết bằng mực tàu không phai, mười hai chữ in hoa đập thẳng vào mắt gã:
BẢN DI CHÚC CÔNG CHỨNG VÀ VĂN TỰ HIẾN TẶNG DI SẢN HƯƠNG HỎA CÓ ĐIỀU KIỆN. Đúng lúc ấy, hai cánh cửa gỗ lim của gian từ đường chính đột ngột mở toang từ phía bên ngoài. Ánh đèn pha ô tô rực sáng cùng tiếng bước chân dồn dập vang lên trên sân gạch.
Trần Hạ Thục khoác chiếc áo măng tô dài màu sẫm bước vào đầu tiên, theo sát phía sau cô là giám đốc pháp chế Văn Khánh Giang. Hai viên chức thừa phát lại đang cầm máy quay ghi nhận hiện trường, cùng một công chứng viên kỳ cựu của thành phố. Hệ thống đèn điện công suất lớn trong toàn bộ ngôi nhà từ đường đồng loạt được bật sáng trưng, xua tan màn đêm u ám và phơi bày bộ dạng nhếch nhác, tay cầm búa đục. Mặt mày tái nhợt của bốn kẻ đột nhập lúc nửa đêm. Thấy Trần Hạ Thục và đoàn người của công ty Nam Việt xuất hiện đúng lúc ba giờ mười lăm phút sáng, Phùng Đức Hùng lắp bắp chỉ tay vào mặt đứa cháu gái:
"Mày... sao mày và ông Văn Khánh Giang lại ở đây giờ này? Chẳng lẽ tất cả chuyện này là do chúng mày bày ra?" Trần Hạ Thục bước từng bước chậm rãi qua bậc thềm gỗ, ánh mắt cô dừng lại ở bức tranh thêu chữ Hiếu đang nhỏ những giọt nước màu đỏ sẫm xuống nền gạch. Rồi nhìn sang chiếc xà beng và bình dung môi đã cạn sạch nằm lăn lóc bên cạnh Mai Xuân Kiệt. Giọng cô vang lên thanh thoát, rõ ràng và sắc lạnh như một lưỡi dao phẫu thuật:
"Chú Hùng, chú hỏi câu đó không thấy tự mâu thuẫn với biên bản chú vừa ký lúc chín giờ sáng hôm qua sao?" "Chính bốn người các cô chú đã ký giấy yêu cầu cháu giao chìa khóa từ đường, và cũng chính các cô chú đã mang xà beng. Búa đinh tới đây lúc ba giờ sáng để cạy phá bức tranh thờ của bà nội." "Đoàn thừa phát lại và ông Văn Khánh Giang đứng ngoài cổng đã ghi hình đầy đủ toàn bộ quá trình bốn người tự ý cậy phá lớp sáp ong niêm phong di vật từ đầu đến cuối."
Bùi Nhã Quỳnh vẫn còn ngồi bệt dưới đất, vừa chỉ tay vào vệt đỏ thẫm đang loang lổ trên bức tranh vừa run rẩy hỏi: "Thục... thế còn cái thứ máu tươi đang chảy ra từ tóc của bà nội mày kia là cái gì? Chẳng lẽ bà cụ hiện hồn về nguyền rủa bọn tao thật sao?" Trần Hạ Thục khẽ lắc đầu, bước tới nhặt chiếc bình thủy tinh rỗng mà Mai Xuân Kiệt vừa dùng để tưới lên khung tranh, giơ lên dưới ánh đèn điện:
"Trên đời này không có ma quỷ nào tự nhiên chảy máu cả cô Quỳnh ạ. Chỉ có sự trừng phạt được tính toán bằng khoa học của người xưa dành cho lòng tham của con cháu mà thôi." "Ông nội cháu sinh thời là một nghệ nhân sơn mài và bào chế khoáng chất cổ truyền bậc thầy, còn cháu là người thừa kế toàn bộ sổ tay kỹ thuật bảo tồn của ông bà." "Ba mươi năm trước, khi ông nội phát hiện ra hai người con rể là chú Kiệt và chú Hùng từng lén làm giả chữ ký để định cắm sổ đỏ ngôi nhà này đi buôn lậu. Ông bà đã biết trước sẽ có ngày các người bán cả từ đường sau khi hai cụ khuất núi."
Cả bốn người Mai Xuân Kiệt, Phùng Đức Hùng, Bùi Nhã Quỳnh và Đoàn Trúc Cầm đều sững người khi nghe nhắc lại chuyện năm xưa. Trần Hạ Thục chỉ tay vào rãnh gỗ lim trên đỉnh khung tranh, giải thích từng lời rành mạch: "Vì vậy, khi bà Đượm nhổ từng sợi tóc bạc để thêu bức chữ Hiếu này, ông nội đã khoét một rãnh ngầm trong khung gỗ lim. Chứa đầy bột muối sắt ba clorua khan trộn với nhựa thông, rồi dùng sáp ong rừng bịt kín lại để cách ly hoàn toàn với không khí."
"Chừng nào các cô chú còn giữ chút đạo hiếu, để yên bức tranh trên vách thờ như lời bà dặn, thì lớp sáp ong vẫn nguyên vẹn và không có bất kỳ chuyện gì xảy ra." "Nhưng một khi các người nổi lòng tham, dùng xà beng cạy vỡ lớp sáp ong để tìm vàng hoặc tháo tranh bán đất. Lại còn lấy đúng lọ dung môi tẩy sáp chứa amoni thiocyanat trong xưởng vẽ của cháu đổ thẳng vào khung tranh..." "Thì ngay lập tức, ion sắt ba sẽ phản ứng hóa học với ion thiocyanat trong môi trường ẩm ướt của đêm mưa. Tạo thành phức chất sắt ba thiocyanat có màu đỏ thẫm và mùi tanh kim loại giống hệt như máu tươi của con người!"
Nghe lời giải mã hoàn toàn bằng hóa học vô cơ của đứa cháu gái, cả bốn kẻ vừa suýt ngất vì sợ ma lúc nãy đều há hốc mồm. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm lưng áo. Không có ma quỷ nào cả, nhưng sự tính toán thấu thị tâm can con người từ ba mươi năm trước của ông. Bà cụ kết hợp với cái bẫy tâm lý của Trần Hạ Thục còn đáng sợ hơn cả ma quỷ gấp trăm lần! Trần Hạ Thục nói tiếp, giọng đanh lại đầy uy lực:
"Phản ứng tạo ra dung dịch sắt thiocyanat có tính axit nhẹ, vừa tạo hiện tượng chữ Hiếu rỉ máu để đánh sập tâm lý kẻ bất hiếu. Vừa tự động ăn mòn lớp lụa tơ tằm ngâm phèn bên ngoài để làm lộ ra thứ quan trọng nhất nằm ở bên trong." Vừa nói, cô vừa đeo đôi găng tay vải trắng chuyên dụng của nghệ nhân bảo tồn. Cẩn thận gỡ tấm cốt gỗ bọc giấy dó ép nhựa thông trong suốt ra khỏi khung tranh đặt lên bàn trước mặt công chứng viên và Văn Khánh Giang. Vị công chứng viên kỳ cựu đeo kính lão, dùng kính lúp soi kỹ con dấu nổi và chữ ký lưu chiểu trên tấm văn tự cổ rồi gật đầu xác nhận:
"Tôi xác nhận đây chính là bản gốc di chúc công chứng và văn tự hiến tặng di sản thừa kế có điều kiện do ông. Nội quá cố và Bà Đượm lập tại phòng công chứng nhà nước số một vào tháng mười năm một ngàn chín trăm chín mươi sáu!" Mai Xuân Kiệt lao tới bên bàn, gân cổ cãi trong sự tuyệt vọng: "Không thể nào! Tháng trước tôi đã nhờ người tra cứu toàn bộ dữ liệu điện tử của các phòng công chứng trong thành phố. Hoàn toàn không hề có bản di chúc nào của bà Đượm cơ mà!"
Vị công chứng viên nhìn Mai Xuân Kiệt bằng ánh mắt vừa thương hại vừa khinh bỉ: "Ông Kiệt ạ, hệ thống tra cứu điện tử mà ông nhờ người kiểm tra chỉ mới số hóa các hồ sơ từ năm hai ngàn linh năm trở lại đây thôi." "Còn bản di chúc này được lập từ năm một ngàn chín trăm chín mươi sáu trong sổ lưu trữ mật bằng giấy tại kho lưu trữ quốc gia tỉnh. Và tuần trước cô Trần Hạ Thục đã nộp đơn yêu cầu trích lục bản gốc đối chiếu!"
"Theo nội dung ghi rõ trong bản di chúc gốc được niêm phong dưới bức tranh này:. Toàn bộ ngôi nhà từ đường sáu trăm mét vuông được ông bà cụ lập làm di sản hương hỏa truyền đời. Giao cho cháu nội là Trần Hạ Thục toàn quyền quản lý, sử dụng và bảo tồn." "Các con là Bùi Nhã Quỳnh và Đoàn Trúc Cầm chỉ được hưởng quyền lui tới cúng bái tổ tiên nếu giữ nguyên hiện trạng bàn thờ và bức tranh chữ Hiếu." "**Trường hợp bất kỳ người con nào tự ý ký giấy bán đất từ đường hoặc tự tay tháo dỡ bức tranh thêu chữ Hiếu khỏi vách hậu cung. Người đó lập tức bị truất toàn bộ quyền thừa kế, và một trăm phần trăm quyền sở hữu. Hợp pháp của khối bất động sản này tự động chuyển sang tên duy nhất của cô Trần Hạ Thục!**"
Từng câu từng chữ mà vị công chứng viên đọc lên từ tấm văn tự bọc nhựa thông như những nhát búa tạ giáng thẳng xuống đỉnh đầu bốn kẻ tham lam. Đoàn Trúc Cầm đứng không vững nữa, khuỵu gối đập mạnh xuống nền gạch, miệng lắp bắp: "Truất... truất toàn bộ quyền thừa kế? Toàn bộ đất từ đường sáu trăm mét vuông đều thuộc về một mình con Thục?"
"Thế còn... thế còn bản hợp đồng bán đất mười sáu tỷ mà bọn tôi đã ký với công ty Nam Việt và tám tỷ tiền cọc vừa nhận chiều hôm kia thì sao?" Ngay khi Đoàn Trúc Cầm vừa thốt ra câu hỏi đó, giám đốc pháp chế Văn Khánh Giang đã bước lên một bước. Mở chiếc cặp da lấy ra bản hợp đồng đặt cọc có đầy đủ chữ ký và dấu vân tay đỏ chót của cả bốn người. Gương mặt vị giám đốc pháp chế lúc này không còn vẻ niềm nở xã giao như buổi sáng, mà nghiêm nghị và lạnh băng đúng chuẩn mực của pháp luật thương mại.